Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia. - Điều 19, Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền

27/09/2011

GIÁO DỤC VIỆT NAM THỜI CỘNG HOÀ (1955 - tháng 4 năm 1975)

Bs Nguyễn H.D.
Nền Quốc Gia Giáo dục miền Nam
Thời kỳ 1955-1975
Sau hiệp định Genève 1954, Chính quyền Miền Nam tiếp thu những thành tựu của nền giáo dục thời Đông Pháp (Đông Dương thuộc Pháp) và dựa theo mô hình giáo dục cùng với kinh nghiệm của nước Pháp chính quốc, để xây dựng nên nền Quốc gia Giáo dục của người Việt Nam.

Mặc dù được sự “vận hành dưới sự chiếm đóng của quân Mỹ” nền Quốc gia Giáo dục mới do người Việt Nam tự chủ từ cấp Tiểu học lên đến Đại học, không có sự chi phối của nước ngoài, mang đậm nét khai phóng con người với ba đặc tính: Dân tộc, Khoa học, Đại chúng. Nó chọn lọc và kế thừa truyền thống tốt của ba nền giáo dục: Nho học (Cựu học), Tân học (Giáo dục thực dân) và Tây học (Giáo dục Pháp quốc).

Tiếp tục hun đúc và khơi dậy tinh thần dân tộc cho người đi học, nền giáo dục đã ươm mầm cho “phong trào yêu nước chống Mỹ của các Sinh viên Học sinh các thành thị Miền Nam, đấu tranh không mệt mỏi cho nền dân chủ và độc lập tự do của đất nước”.

Nhà thơ cách mạng Giang Nam, từng “yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ” của thời đi học, nên đã vào bưng biền theo Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Nhiều trí thức trẻ của Miền Nam lúc đó, được cử đi du học nước ngoài, khi tốt nghiệp ra trường, “không trở về Miền Nam lệ thuộc Mỹ, mà lại quay về Miến Bắc độc lập” để phục vụ dân tộc.

Nền quốc gia giáo dục Miền Nam là một nền giáo dục đại chúng, gồm các bậc học: Phổ thông (12 năm). Đại học, hậu Đại học. Hệ giáo dục phổ thông (12 năm) gồm ba cấp: Tiểu học, Trung học Đệ nhất cấp, Trung học Đệ nhị cấp, với chương trình từng bậc, từng lớp và từng môn học được Bộ Quốc gia Giáo dục soạn thảo cụ thể và ban hành, thống nhất áp dụng trong toàn quốc.

Chế độ cũ mở rộng cửa và tạo điều kiện cho tất cả những ai muốn đi học, đều được học và không giới hạn tuổi tác. Hệ giáo dục phổ thông có hai loại trường cho người đi học: Trường công lập (miễn phí) và Tư thục (thu phí). Những ai không đủ điều kiện học Trường công lập (quá tuổi quy định, rớt tuyển sinh hoặc bị Trường công lập đuổi học…) thì vào học Tư thục; bị Tư thục này đuổi học có thể vào Tư thục khác.

Công chức bận làm công sở hoặc người bận sinh kế không đến Trường được, vẫn có thể học lên cao bằng con đường học tại chức, học hàm thụ hoặc tự học, theo đúng Chương trình học thống nhất của Bộ Quốc gia Giáo dục ban hành. Công chức tự học đậu được bằng cấp cao hơn, đương nhiên được thăng ngạch trật và tiến chức đúng theo tiêu chuẩn quy định. Bên cạnh Hệ giáo dục phổ thông trung học, có Hệ giáo dục dạy nghề (Trung học chuyên nghiệp) cho học sinh không đủ sức tiếp tục học lên bậc Tú tài hoặc Đại học, phải ra đời mưu sinh. Học sinh nghèo học giỏi hoặc thuộc gia đình công chức đông con, được Nhà nước trợ cấp học bổng.

Chương trình học và sách giáo khoa trung - tiểu học được các nhà giáo dục chuyên nghiệp nghiên cứu soạn thảo công phu, bao gồm Đức dục, Trí dục và Thể dục, nhằm rèn dạy nhân cách và trang bị trí thức cho học sinh. Người đi học được học và tiếp cận – qua sách vở - lịch sử và địa dư của các miền đất trên thế giới, các nền văn minh của nhân loại, các học thuyết và và triết thuyết khác nhau - kể cả chủ nghĩa cộng sản - để mở rộng tầm nhìn, mà không bị gò bó ép buộc phải theo chủ thuyết nào.

Có ba kỳ thi tốt nghiệp cuối cấp ở hệ giáo dục phổ thông: Tiểu học, Trung học và Tú tài. Hai kỳ thi Tiểu học và Trung học không bắt buộc phải thi, nhưng Nhà nước vẫn tổ chức thi hàng năm cho những ai muốn thi lấy Bằng tốt nghiệp, để tiện cho việc mưu sinh.

Tất cả những ai đã đi học đều được dự thi, không có giới hạn tuổi. Học sinh tự học hoặc không theo học trường lớp chính quy được đăng ký thi dưới dạng “thí sinh tự do” và được thi cùng ngày, cùng đề thi, cùng hội đồng thi với những thí sinh khác.

Thi là để xác định trình độ và đánh giá kết quả học tập của học sinh. Phạm vi ra đề thi là toàn bộ chương trình học cuối cấp, không có giới hạn trong việc soạn thảo đề thi và không có đề thi mẫu. Tùy tính chất của môn học, đề thi có thể được thực hiện bằng bài tự luận hoặc dưới dạng trắc nghiệm (tests), bằng thi vấn đáp hoặc thi viết, hoặc phối hợp các dạng thi. nhiều nhà giáo dục ưa chuộng kiểu thi tự luận, vì nó giúp đánh giá được toàn diện khả năng của thí sinh: chữ viết, chính tả, kiến thức, cách diễn đạt, … Việc học hành và thi cử dưới chế độ cũ được tổ chức rất quy cũ nề nếp, đảm bảo được tính công bằng và bình đẳng cho mọi người đi học. Kỷ cương được tuân thủ nghiêm ngặt, không có ngoại lệ. Học sinh Trung học Đệ nhị cấp (cấp 3) không còn viết sai chính tả; thí sinh Tú tài phạm lỗi chính tả có thể bị điểm loại. Sinh ngữ được xem là chìa khóa mở cửa kho tàng trí thức, giúp người đi học nhìn ra thế giới bên ngoài. Học sinh bắt đầu được học sinh ngữ kể từ lớp Đệ thất (lớp 6) của Trung học Đệ nhất cấp (cấp 2); lên đến lớp Đệ tam (lớp 10) của Trung học Đệ nhị cấp (cấp 3), được học thêm sinh ngữ thứ hai. Sinh ngữ thông dụng thời đó gồm: Pháp ngữ, Anh ngữ, Hoa ngữ, Đức ngữ. Học sinh thi đậu Tú tài sử dụng thành thạo hai ngoại ngữ đã học, nên không gặp khó khăn khi lên Đại học hoặc đi du học nước ngoài.

Văn bằng Tú tài của Việt Nam lúc đó được nhà nước Pháp công nhận tương đương văn bằng Tú tài (Baccalauréat) của Pháp. Với văn bằng này, người Việt Nam có thể được nhận vào học bất cứ trường Đại học nào trên thế giới, kể cả Pháp và Mỹ, và có trình độ không thua kém người của chính quốc.

Những “Cậu Tú, Cô Tú” nhỏ tuổi thời đó rất được xã hội tôn vinh vì họ là những trí thức trẻ có tri thức rộng, rất có tư cách, bắt đầu thể hiện nhân cách của người lớn để chững chạc bước vào đời và phục vụ đất nước. Đại học Miền Nam trước giải phóng được xem là nơi đào tạo nhân tài và nâng cao dân trí. Học Đại học là học suốt đời, do đó cũng không có giới hạn tuổi tác.

Ngoài các trường Cao đẳng và một số trường Đại học chuyên ngành – như Y khoa, Dược khoa, Nha khoa - cần phải tuyển chọn người vào học, các trường Đại học đều mở rộng cửa cho Sinh viên vào ghi danh học, không phải thi tuyển, như Văn khoa, Khoa học, Luật khoa, … Tự trị Đại học và Dân chủ học đường là động lực phát triển của Đại học Miền Nam trước 1975, theo xu hướng quốc tế.

Viện Đại học được thành lập ở những Trung tâm đô thị lớn trong nước, như Sài Gòn - Huế - Đà Lạt - Cần Thơ, theo mô hình của Đại học các nước Châu Âu và Mỹ. Viện gồm nhiều trường Đại học hợp thành, hoạt động độc lập và tự chủ, không có sự can thiệp của bên ngoài - kể cả Bộ Quốc gia Giáo dục đương thời. Hội đồng Khoa của mỗi trường Đại học gồm những học giả uyên bác hoặc những nhà khoa học hàng đầu trong nước, có nhiệm vụ soạn thảo chiến lược và chương trình đào tạo của Trường mình, xét phong Giáo sư mới và tấn phong Khoa trưởng.

Nhà trường Đại học hoạt động theo cơ chế tập thể lãnh đạo (Hội đồng Khoa) và cá nhân phụ trách (Khoa trưởng). Khoa trưởng đồng thời cũng là người đứng đầu Hội đồng Khoa. Khoa trưởng các Phân khoa Đại học hợp thành Hội đồng Viện Đại học; Hội đồng Viện tấn phong Viện trưởng, chịu trách nhiệm phối hợp hoạt động đào tạo giữa các Phân khoa Đại học cùng Viện và vạch phương hướng hoạt động chung của toàn Viện. Sinh viên là đối tượng, đồng thời cũng là chủ thể của Nhà trường Đại học trước giải phóng. Bước vào ngưỡng cửa Đại học, người sinh viên được sống trong môi trường học tập và sinh hoạt hoàn toàn khác, so với thời Phổ thông Trung học.

Giảng đường không phải là lớp học mà là nơi sinh viên giao lưu với các học giả và các nhà khoa học lớn, để được hướng dẫn tự học, tham khảo, nghiên cứu và tự vạch cho mình con đường tiếp thu trí thức và phát triển trí tuệ, rộng thênh thanh ở phía trước. Sinh viên không bị điểm danh, không bị gò ép vào khuôn khổ nhất định, mà được tự do chọn học những gì mình quan tâm, được tự nguyện tham gia những sinh hoạt hợp với năng khiếu và sở thích riêng. Sinh viên nhỏ tuổi được xem là trí thức trẻ, bước đầu có nhân cách của người lớn. Với truyền thống dân chủ học đường, Nhà trường tạo mọi điều kiện cho Sinh viên được tự do hoạt động trong khuôn khổ nội quy của trường và không can thiệp vào việc nội bộ của Sinh viên. Bên trong Nhà trưòng Đại học, người Sinh viên được quyền tự do nói lên tiếng nói của mình vế mọi vấn đề của đất nước và của xã hội đương thời, mà không bị bất cứ một sự ràng buộc nào.
Nền Quốc Gia Giáo Dục & Ngôn ngữ Việt NamThời kỳ sau 30/4/1975

Sau ngày giải phóng, một cuộc cải cách lớn về giáo dục được người Việt Nam mong đợi nhằm xóa bỏ những dị biệt giữa hai miền, bổ sung và phát huy ưu thế của nhau, cùng nhau ra sức phát triển nền Quốc gia Giáo dục thống nhất của đất nước lên tầm cao mới.

Song, những nhà lãnh đạo giáo dục của chế độ mới, khi nước nhà vừa thoát ách thực dân, đã không xem trọng lợi ích tối cao của Quốc gia Dân tộc và tương lai của các thế hệ trẻ mầm non của đất nước.

Nền giáo dục tự chủ của Miền Nam, từng là niềm tự hào của người dân Miền Nam nước Việt, đã đào tạo ra biết bao nhân tài cho đất nước suốt nhiều thập niên qua, đã lần hồi bị xóa sạch, từ bậc Tiểu học cho đến Đại học, trong đó có giáo dục Y khoa. Hàng chục lần cải cách giáo dục - cải cách, cải cách lại, rồi lại cải cách - suốt 30 năm qua, chỉ nhằm đáp ứng sự “tế nhị” đối với nước bạn này, nước bạn nọ hoặc để thỏa mãn quyền lợi của phe nhóm cầm quyền, không có năng lực lãnh đạo giáo dục.

Dưới chủ trương cải cách giáo dục, người ta xóa bỏ tất cả, xáo trộn thường xuyên việc học của giới trẻ, thay những cái đã có truyền thống tốt từ lâu đời bằng cái mới kém hiệu quả, thậm chí tệ hại. Cải cách giáo dục buộc trẻ con phải thay đổi cách đọc mẫu tự và cách đánh vần tiếng Việt, thay đổi cả chữ viết - vốn đẹp và quen dùng từ thời cha ông xa xưa.

Người ta bỏ những môn học truyền thống, vốn rèn dạy cho người đi học lòng nhân ái, phép tu thân xử thế, quy cách giao tiếp văn minh lịch sự ngoài xã hội, nghĩa vụ và lương tâm nghề nghiệp, như Đức dục, Luân lý của thời Tiểu học, Công dân Giáo dục của thời Trung học, Nghĩa vụ luận Y khoa của thời học Đại học ngành Y.

Bộ sách “Quốc văn Giáo khoa thư” nổi tiếng và lâu đời, kỷ niệm khó quên thời Tiểu học của nhiều thế hệ người đi học, từng có tác dụng hình thành nhân cách và tình “yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ”, đã vắng bóng từ lâu trong nhà trường mới. Thay vào đó, người ta áp đặt những môn học mới và sách giáo khoa mới, khô khan, tối nghĩa, kém thực tế, song có tác dụng gieo rắc vào lòng trẻ thơ tính kiêu ngạo, sự dối trá, sự kỳ thị đồng thời kích động lòng hận thù của đấu tranh giai cấp - những môn học mà ngày nay đã bị loại bỏ tại nước Nga xô viết cũ và các nước Đông Âu cũ theo chủ nghĩa xã hội.

Cải cách giáo dục không xem trọng việc giảng dạy Văn phạm - tức Ngữ pháp – cho học sinh từ cấp Tiểu học; vì vậy, ngôn ngữ Việt từ sau giải phóng xuống cấp nghiêm trọng.

Sinh viên, Bác sĩ trẻ đã ra trường, ngay cả nghiên cứu sinh hậu Đại học, vẫn còn viết sai chính tả. Nhà văn, Nhà báo, công chức hành chính sử dụng ngữ pháp và ngôn từ rất tùy tiện, rườm rà, khó hiểu, sai quy tắc, như: “Cửa hàng bách hóa tổng hợp”, “Cửa hàng thịt tươi sống Thanh niên”, “Cửa hàng nội ngoại”, “Phim hoạt hình”, “Thu hình viên”, “Ghi điện viên”, “Xí nghiệp cán kéo quấn cuộn dây đồng”, “Lễ mít tinh kỷ niệm ngày thành lập…”. Người ta không ngại ngùng thay từ Hán-việt thanh nhã bằng những từ bình dân thô tục giữa nơi công cộng: phân/ cứt, tiểu/ đái, Nhà vệ sinh/ Buồng ỉa đái, Phòng sanh/ Buồng đẻ.

Hiện nay vẫn còn tồn tại dư luận về việc một số cán bộ quân quản Miền Bắc lúc mới giải phóng, đã buộc sửa bảng hiệu “Bảo sanh viện Từ Dũ” thành “Xưởng đẻ Từ Dũ”.

Danh từ y học trước giải phóng cũng bị buộc nhường chỗ cho những cụm từ thiếu chuẩn xác, như: “Cơ thể học” (Anatomie) được thay bằng “Giải phẫu học” – trùng lấp với “Giải phẫu học (Chirurgie) là mổ xẻ. Tiếng Việt đang mất dần sự trong sáng và thanh nhã của ngày xưa. Vào giữa thập niên 80, một cán bộ cấp cao của Ban Khoa Giáo Trung ương (ĐQB) đã cảnh báo nguy cơ một sự tan rã từng mãng của nền Quốc gia Giáo dục, nếu tình hình không sớm được cải thiện.

Từ đó đến nay, nền Quốc gia Giáo dục của đất nước vẫn tiếp tục xuống dốc và hiện lâm khủng hoảng trầm trọng, chưa tìm được lối ra. Truyền thống đạo đức và giá trị học đường ngày càng bị xói mòn. Văn bằng Tú tài Việt Nam - trước giài phóng vốn có giá trị quốc tế - nay không còn được Pháp, Mỹ và các nước công nhận. Các nhà lãnh đạo giáo dục chạy theo thành tích, dối trên lừa dưới, có nơi biến học sinh thành “gà chọi” để được dịp thăng quan tiến chức.

Nhà giáo thiếu gương mẫu của người thầy. Nhà trường trở thành trọng điểm của ma túy, nơi thanh toán giữa các băng đảng học sinh, là cái chợ mua bán chữ nghĩa, nơi phô trương thế lực của con cán bộ cách mạng hoặc con nhà giàu.

Thi cử là dịp phơi bày sự thoái hóa nhân cách của kẻ sĩ thời nay: “phao”, quay cóp, đạo văn, thi thuê, giả bằng cấp mua bán luận văn và học vị. Dưới thời bao cấp, giáo viên bị cấm dạy tư, đồng lương không đủ sống buộc họ phải đi làm những việc đau lòng để cải thiện đời sống: đạp xích lô, bồi bàn, bán kem cho học sinh giờ ra chơi, dựng quán cà phê bia hơi, … Sĩ khí truyền thống lừng lẫy của cha ông ngày xưa đã không còn trong nhà trường mới xã hội chủ nghĩa.

Trong lịch sử dựng nước của dân tộc, chưa có thời kỳ nào người trí thức - sĩ phu - bị thoái hóa nhân cách và lâm hoàn cảnh nhục nhã, đoạn trưòng, như thời nay. Những đợt cải cách giáo dục trong 30 năm qua, trên thực tế đang làm hư hỏng giới trẻ học đường và phá hoại sự nghiệp giáo dục của tiền nhân để lại.

Sự xuống cấp của học đường phổ thông đồng hành và cùng lúc kéo theo sự sa sút của học đường Đại học. Sự chê trách của xã hội về nền giáo dục đương đại và y đức của người thầy thuốc Việt Nam ngày nay, đã làm đau lòng những người Thầy tâm huyết, nặng lòng với dân tộc – trong đó có Giáo sư Ngô Gia Hy. Từ giữa những năm 90, mặc dù đã nghỉ hưu, người ta thấy xuất hiện trên nhiều tờ báo lớn những bài viết và trả lời phỏng vấn của Giáo sư Ngô Gia Hy về y đức và chấn hưng giáo dục. Thầy đã nêu lên những tiêu cực chính và một số khuyết điểm lớn trong ngành y hiện nay, đồng thời đề xuất giải pháp khắc phục:

Về chất lượng đào tạo và trình độ Bác sĩ Y khoa hiện nay, Thầy nhận định và tha thiết đề nghị: “Nghề Y là một nghề nhân đạo nên cao quý. Một thầy thuốc đúng đắn phải là thầy thuốc giỏi, chứ không phải nói dốt. Dốt là giết người. Điểm đáng sợ hơn hết là giết người mà không biết mình giết người. Không biết vì dốt! Tôi tha thiết đề nghị một số biện pháp để nâng cao chất lượng đào tạo Bác sĩ: không hạ thấp giá trị bằng Bác sĩ ngang với Cử nhân. Để giài quyết tận gốc, tôi đã nói bao nhiêu lần là chúng ta phải đào tạo Bác sĩ từ 8-9 năm, trong đó có 3 năm nội trú bắt buộc, để khi tốt nghiệp, Bác sĩ sẽ là Tiến sĩ Y khoa (MD) và có đủ khả năng điều trị cũng như dự phòng bệnh. Thời gian đào tạo Bác sĩ hiện nay là 6 năm, nhưng thực tế chỉ học 5 năm, ra trường phải thêm 5 năm làm nghề nhưng vẫn yếu. Tất cả các nước đều đặt hệ thống giáo dục Y tế với chương trình đào tạo Bác sĩ là 8-9 năm, trong đó có 3 năm nội trú và họ ra trường với cấp bậc Tiến sĩ Y khoa chứ không phải Cử nhân. Tiến bộ khoa học hiện nay là vô cùng. Từ năm 1979, tôi ra Hà Nội đề nghị lập Viện Giáo dục Y khoa, mời các thầy thuốc giỏi trên cả nước để soạn thảo các chương trình cập nhật hóa cho Bác sĩ. Mỗi thầy thuốc ít nhất một năm phải ba lần dự lớp cập nhật hóa; nếu 2 năm không qua kiểm tra, không có cập nhật, sẽ phải đi học lại hoặc đóng cửa phòng mạch. Bắt buộc phải cải tạo lại toàn bộ hệ thống giáo dục Y khoa, chứ không đổ lỗi cho Bác sĩ. Phải trả lại cho ngành Y địa vị xứng đáng của nó trong xã hội.”

VIỆT NAM YÊU DẤU