Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia. - Điều 19, Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền

06/04/2012

ĐÀM ĐẠO CHUYỆN GIẢNG DẠY Ở BẬC ĐẠI HỌC

Dưới đây là một bài trả lời phỏng vấn do phóng viên Lê Ngọc Sơn của báo Sinh viên Việt Nam thực hiện. Cuộc trao đổi xoay quanh chuyện giảng dạy, thế nào là một giảng viên tốt, thế nào là một đại học tốt, v.v. Toàn những vấn đề lớn. Tôi (GS Nguyễn Văn Tuấn - Hồ Như Hiển) dĩ nhiên chỉ phát biểu vài ý kiến cá nhân thôi. Bài đã đăng trên báo giấy mấy ngày qua, và sẽ đăng trên mạng, nhưng tôi gửi lên đây những trao đổi chính để các bạn mua vui cũng được một vài trống canh.
Hệ miễn dịch của đại học
SVVN: Thưa GS, là người giảng dạy ở nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới, ngoài chuyện vinh quang, GS thấy sự “khắc nghiệt” của nghề giảng ở nước ngoài như thế nào? 
NVT: Khắc nghiệt thì tôi không chắc, nhưng áp lực thì chắc chắn có. Áp lực để có một bài giảng tốt, đem lại nhiều thông tin mới hoặc có ích cho học viên. Áp lực để trình bày bài giảng một cách trôi chảy, từ cấu trúc nội dung đến phong cách và môi trường chung quanh. Cá nhân tôi lúc nào cũng cố gắng có cái gì mới trong một bài giảng. Cùng là một bài giảng về một chủ đề ở hai nơi, tôi lúc nào cũng có thêm vài điểm khác biệt giữa 2 nơi. Lúc nào tôi cũng cố gắng có cái gì mới trong bài giảng. Đã nhận lời giảng thì phải có cái gì mới để nói; còn không có thì không nhận lời. Những chuẩn mực đó do tôi tự đặt ra và có thể nói là mình tự mình làm khổ mình. Nhưng tôi quan tâm đến học viên hơn là quan tâm đến cá nhân tôi. Tôi biết nhiều người khác cũng như thế, tức là đặt ra những chuẩn mực để vươn tới trong việc truyền đạt kiến thức.
Trong vài trường hợp như giảng bài trong các hội nghị, nhất là cấp quốc gia và quốc tế, thì rất căng thẳng. Có khi phải tốn cả tuần để soạn một bài giảng chỉ 30 slide. Và, phải thực hành nhuần nhuyễn trước khi bước lên bục giảng. Tôi biết có người đã là giáo sư mà mỗi khi giảng ở một hội nghị trước hàng ngàn người mà vẫn phải dùng đến thuốc để … “an thần”. Nói như thế để thấy có tình huống đòi hỏi người giảng phải đầu từ công sức và thời giờ để chuyển tải thông tin đến người nghe. Áp lực ở đây là nhận lãnh trách nhiệm và duy trì uy tín cá nhân.
SVVN: Như thế nào được gọi là một thầy giỏi, thưa GS?
NVT: Theo tôi, một người thầy giỏi có thể phản ảnh qua kiến thức chuyên môn, sự tương tác với học viên, và kĩ năng sư phạm.
Giảng viên tốt phải là người có kiến thức tốt về lĩnh vực hoặc chủ đề mình giảng, thể hiện qua sự làm chủ thông tin và tấm gương học thuật. Làm chủ thông tin ở đây có nghĩa là giảng viên chính là người “sản xuất” ra (hay hiểu một cách tường tận) thông tin chính dùng trong bài giảng qua những nghiên cứu của họ. Tấm gương học thuật ở đây tôi muốn nói đến cách “nói có sách, mách có chứng”, tất cả những phát biểu phải có cơ sở khoa học hay có chứng cứ, chứ không nói theo cảm tính.
Khả năng tương tác với học viên đóng vai trò rất quan trọng làm nên một người thầy giỏi. Người thầy giỏi nên kích thích sự quan tâm và tò mò của học viên, dành thời gian cho học viên ghi chép và “tiêu hoá” thông tin. Người thầy giỏi giảng dạy từ trái tim, chứ không chỉ từ sách vở. Do đó, người thầy giỏi còn phải tỏ ra nhiệt tình với chủ đề mình giảng để “truyền lửa” cho học viên.
Ngoài kiến thức và tương tác, người thầy giỏi theo tôi còn phải có kĩ năng sư phạm tốt. Kĩ năng sư phạm ở đây là có khả năng giải thích, kĩ năng nói chuyện trước đám đông (chẳng hạn như không làm cho khán giả ngủ!), có kĩ năng soạn bài giảng một cách đúng phương pháp, sử dụng từ ngữ chính xác, sử dụng những ví dụ có liên quan đến bài giảng. Người thầy xoàng có thể làm cho vấn đề thêm phức tạp, nhưng người thầy giỏi thì có khả năng tiết lộ sự đơn giản của vấn đề. Người thầy giỏi còn có óc hài hước. Hài hước nhưng không quá trớn và tự biến mình thành người nghệ sĩ hài trước một cử toạ học thuật.
Có thể phân các giảng viên thành 4 nhóm theo nội dung và phong thái. Giảng viên trung bình là người chỉ kể chuyện và pha trò giỏi; giảng viên hay là người giải thích tốt; giảng viên giỏi là người có khả năng chứng minh và thuyết phục; và giảng viên tuyệt vời là người có khả năng truyền cảm hứng.
SVVN: Nếu được phép so sánh, GS sẽ so sánh người thầy giỏi với hình ảnh nào…?
NVT: Tôi muốn lấy hình tượng của người trồng hoa để ví von với vai trò của người thầy. Người trồng hoa phải cẩn thận chọn và gieo hạt giống, rồi gọt đẽo cành hoa thành một tác phẩm đẹp. Người thầy cũng thế: chọn nội dung bài giảng kĩ càng, và rèn luyện kĩ năng sư phạm để gieo những hạt giống tri thức đến học viên và đào tạo họ thành những người sống đẹp.
SVVN: Nếu trở lại là một sinh viên, GS thích phong cách giảng dạy nào nhất? Và vì sao?
NVT: Câu trả lời có lẽ tùy vào giai đoạn. Nếu tôi là sinh viên bậc cử nhân, tôi thích giảng viên có khả năng giải thích và khai sáng. Nếu là sinh viên sau đại học, tôi thích giảng viên truyền đạt cảm hứng hơn là giảng viên giải thích.
Mỗi một bậc học có nhu cầu khác nhau. Ở bậc cử nhân, sinh viên cần tiếp thu một lượng kiến thức tổng quan tương đối lớn, nên tôi nghĩ cách giảng giải thích rất có hiệu quả. Còn bậc sau đại học thì vì sinh viên phải tập trung vào một lĩnh vực hẹp, có khi rất hẹp, nên cần phải có cảm hứng để theo đuổi đề tài. Do đó, cách giảng thích hợp không thể nói chung được mà còn tùy thuộc vào giai đoạn trong quá trình học hành.
SVVN: Xét ở khía cạnh sinh viên “chấm” bài giảng của thầy giáo, nó góp phần thế nào đến việc cải thiện chất lượng nền giáo dục, và giúp cho việc thải lọc các giảng viên kém?
NVT: Tôi nghĩ việc sinh viên đánh giá giảng viên là hoàn toàn hợp lí và dân chủ. Sinh viên phải đóng học phí cũng như tiêu thì giờ để đến nghe giảng viên giảng, và do đó việc họ có mặt trong giảng đường là một sự đầu tư. Đã là đầu tư thì họ có quyền kì vọng có lợi, được tiếp thu kiến thức mới, và có quyền cho ý kiến.
Mặt khác, tôi nghĩ người giảng viên tốt cũng rất muốn biết sinh viên nghĩ gì và đánh giá mình ra sao. Tôi biết có giảng viên còn chủ động soạn ra những bộ câu hỏi để thăm dò ý kiến của sinh viên. Thật ra, tôi biết vài người mà trong hồ sơ xin đề bạt các chức danh khoa bảng (như giáo sư chẳng hạn) giảng viên cũng kèm theo những cuốn băng video bài giảng và những đánh giá của sinh viên.
Do đó, về lâu dài, việc sinh viên đánh giá giảng viên theo tôi là sẽ có hiệu quả cải tiến kĩ năng và làm giàu thêm kinh nghiệm của giảng viên. Ngay cả trong các hội thảo dưới hình thức seminar và symposium, học viên cũng đánh giá giảng viên về nội dung bài giảng, về phong cách, về tính thân thiện và nhiệt tình giúp đỡ học viên, v.v. Tất cả những đánh giá như thế tạo áp lực lên người giảng phải đáp ứng nhu cầu học thuật của học viên, và để đáp ứng nhu cầu, giảng viên phải nỗ lực hết mình.
SVVN: Hệ thống giáo dục đại học ở các nước “miễn dịch” thế nào với các giảng viên không đủ tài, đủ đức, thưa GS?
NVT: Ở đâu thì tôi không rõ, nhưng ở Úc này, tôi nghĩ giới quản lí đại học không ngạc nhiên nếu biết giảng viên của trường giảng dở. Phần lớn những người giảng dạy đại học là những nhà nghiên cứu, và rất ít người được huấn luyện về kĩ năng giảng dạy. Tôi thấy họ thường khuyên các giảng viên bị sinh viên đánh giá kém về kĩ năng giảng dạy nên đi học một khóa về kĩ năng sư phạm (cũng giống như các nghiên cứu sinh không am hiểu cách viết bài báo khoa học được khuyên nên đi học các khóa học về viết văn trong khoa học).
Vì đặt nặng nghiên cứu khoa học, nên không có đại học nào bải nhiệm giảng viên chỉ vì họ giảng dạy kém. Tuy nhiên, ở Úc có vài trường hợp giảng viên bị miễn nhiệm vì phạm tội “sách nhiễu tình dục”. Dù là người tài cỡ nào mà phạm phải lỗi này thì sẽ bị cho nghỉ việc ngay, không bao giờ nhân nhượng. Do đó, các đại học Úc rất quan tâm đến các qui chuẩn đạo đức trong giảng dạy, như tuyệt đối không được dùng những từ ngữ mang tính phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính, phân biệt tuổi tác, v.v. Tôi còn nhớ vào thập niên 1990, có một ông giáo sư sử học rất nổi tiếng ở Melbourne bị yêu cầu từ chức vì ông có những lời lẽ xuyên tạc và xúc phạm đến người tị nạn gốc Việt Nam. Nói chung, giảng viên bị miễn nhiệm không phải vì lí do giảng dở, mà vì lí do vi phạm đạo đức sư phạm.
Tâm lý bầy đàn
SVVN: Một điều lạ là: Trong sự kiện mới đây, khi xem lại clips giảng bài của một giảng viên, vị TS đứng lớp nói quá nhiều từ được coi là tục tĩu. Ấy vậy nhưng lại được một bộ phận cộng đồng xem đó là chuyện bình thường. Hiệu ứng này do đâu, thưa GS?
NVT: Tôi cũng có theo dõi sự việc và cũng ngạc nhiên trước sự ủng hộ của nhiều sinh viên đối với vị giảng viên. Tôi không biết căn nguyên từ đâu, nhưng tôi chú ý thấy những người ủng hộ và tán dương vị giảng viên đó phần lớn là “cư dân mạng”. Phản ứng của cư dân mạng thì dĩ nhiên không đủ chứng cứ để nói rằng đa số sinh viên Việt Nam tán thành cách giảng của vị giảng viên đó. Có lẽ cần phải có một khảo sát để tìm hiểu “hiện tượng” này.
Tuy nhiên, trước đây, tôi có đọc một khảo sát cộng đồng ở Việt Nam, mà trong đó tác giả báo cáo rằng phần lớn (trên 70%) sinh viên lên mạng thường để đọc báo, viết blog, facebook, chat với bạn, chơi game, đọc truyện, tức là những việc làm giải trí, không mang tính học thuật cao. Do đó, có lẽ một số sinh viên kém khả năng về critical thinking, tức khả năng phân tích một vấn đề để đánh giá đúng sai, phân biệt giữa ngụy biện với logic, hay khả năng đặt vấn đề. Những người này dễ bị chi phối bởi “hiệu ứng đám đông”. Chỉ cần một vài người tung hô thì đám đông khác cũng tung hô theo. Trong trường hợp đề cập, tôi không biết có hiệu ứng đám đông hay không, chỉ là giả thuyết thôi.
SVVN: Gần đây, GS trở về VN dạy khá nhiều khoá học khác nhau. GS nhận thấy điểm gì thú vị (cả tích cực, lẫn tiêu cực) từ người học?
NVT: Những lớp học tôi giảng thường là seminar, symposium, và workshop chủ yếu dành cho các bác sĩ, nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh, v.v. chứ tôi không có dịp giảng cho sinh viên trong các đại học. Trong các lớp tôi tham gia giảng bài, cảm nhận của tôi nói chung là tích cực, các học viên đều nghiêm túc tham gia học và đặt câu hỏi. Nếu có nhận xét “tiêu cực” thì tôi thấy nhiều câu hỏi của học viên thường đơn giản, chưa đi chuyên sâu, thậm chí có khi lạc đề. Có lần tôi nói về sự phát triển của xương trong thời niên thiếu, nhưng có người đứng lên hỏi xương của người đã chết dưới đáy mồ mấy chục năm thì ra sao!
Nhưng tôi biết có hội nghị có khi khai mạc rất hoành tráng vào những giờ đầu, nhưng sau đó thì số người tham dự cứ giảm dần. Có hội nghị ngày đầu thu hút cả 500 người, nhưng đến ngày thứ hai chỉ còn 100! Điều đáng ngạc nhiên là ngay cả những vị chức sắc, giáo sư cũng “bỏ cuộc”; họ chỉ đến dự vài giờ đầu và sau đó biến mất, để đến giờ kết thúc họ lại xuất hiện. Tôi nghĩ thái độ như thế thật xa lạ với học thuật, rất khác với các hội nghị ở ngoài này khi người tham dự phải trả tiền và do đó họ dự rất nghiêm chỉnh.
SVVN: GS thấy năng lực tranh biện của cả giảng viên, và sinh viên của ta như thế nào?
NVT: Tôi không thể đưa ra nhận xét về tất cả giảng viên và sinh viên được, vì tôi chỉ có tiếp xúc với vài người hay cao lắm là vài trăm người. Cảm nhận của tôi qua tiếp xúc là khả năng tranh luận của các giảng viên và sinh viên (nghiên cứu sinh) nói chung là không cao. Họ thường thay sa đà vào những tiểu tiết và xa rời vấn đề đang bàn, tức lạc đề. Không ít người lại có xu hướng ngụy biện. Nguỵ biện phổ biến nhất tôi hay thấy là tấn công cá nhân, thậm chí đời tư cá nhân (thay vì tập trung vào chủ đề bàn luận); lợi dụng quyền thế (kiểu như “giáo sư A nói thế”); và lợi dụng đám đông (kiểu lập luận “đa số đều nói”), v.v. Thật ra, chính những người nguỵ biện cũng không biết họ nguỵ biện.
Tất cả những điểm trên có thể qui kết vào một điểm chung: văn hóa tranh luận thấp. Văn hóa tranh luận thấp dẫn đến những cãi cọ thiếu nghiêm túc. Vấn đề là nhiều người trong chúng ta không am hiểu những qui tắc tranh luận và những hình thức ngụy biện, nên không vận dụng những lí lẽ logic với thái độ thành thật và cởi mở. Hệ quả là chúng ta hay thấy những phát biểu theo cảm tính, có khi hẹp hòi. Cá nhân tôi vẫn thỉnh thoảng nhận được những phê phán cảm tính như thế, và thấy rất khó tranh luận nên đành bỏ qua.
SVVN: Làm thế nào để các bạn sinh viên ý thức được vai trò của họ trong việc nâng cao chất lượng nền giáo dục ĐH, thưa GS?
NVT: Một đại học tốt bao gồm những sinh viên tốt. Thật vậy, nhiều khi người ta đánh giá uy danh giữa các đại học dựa vào thành tựu của sinh viên. Tôi nghĩ sinh viên trước hết cần rèn luyện khả năng critical thinking và tư duy phản biện, để phân biệt đúng và sai. Sinh viên cũng cần phải tập làm quen với cách phát hiện và giải quyết vấn đề, phải am hiểu những qui ước trong tranh luận học thuật. Ngoài ra, đại học cũng phải tạo điều kiện để sinh viên có tầm nhìn “big picture” – toàn cảnh. Đành rằng học hành thì chỉ tập trung vào một chủ đề nhỏ và hẹp, nhưng cần phải đặt chủ đề đó trong bối cảnh lớn hơn, để biết mình đang ở đâu trong bối cảnh đó. Sinh viên đại học mà không nghĩ mình là thành phần elite trong xã hội thì người sinh viên đó chỉ là người trung bình.
SVVN: Xin hỏi một câu vui: Hãy tưởng tượng, nếu một ngày các giảng viên có quyền nói tục trên giảng đường, thế giới của các đại học này sẽ thế nào?
NVT: Tôi nghĩ câu nói của Khổng Tử có thể trả lời cho câu hỏi này. Khổng Tử từng nói "Nếu ngôn từ không được sử dụng đúng chỗ, thì những gì được phát biểu sẽ không hàm chứa ý nghĩa mà tác giả muốn nói; nếu những gì mình phát biểu vượt ra ngoài ý tưởng của mình thì những gì cần phải thực hiện sẽ không thực hiện được; và nếu những gì mình không thực hiện được, thì đạo đức và nghệ thuật sẽ suy đồi". Tuy nhiên, tôi nghĩ giả thuyết câu hỏi đặt ra chắc chỉ là … giả thuyết thôi, vì trong thực tế vẫn có nhiều giảng viên giỏi và yêu nghề.
SVVN: Theo GS, tinh thần của một đại học (như lẽ ra nó phải có) phải hội đủ các yếu tố nào?
NVT: Câu hỏi hơi lớn và bao quát quá với tôi! Nhưng nếu trả lời ngắn, tôi nghĩ đến tinh thần khai sáng tự do học thuật. Theo tinh thần khai sáng, đại học không chỉ là trung tâm đào tạo nhân tài, mà còn là một trung tâm khoa học và văn hóa, với tự do học thuật được xem là đặc điểm quan trọng nhất.  Một đại học lí tưởng nên tôn trọng tinh thần tự do học thuật hay academic freedom, trong đó giảng viên và sinh viên có quyền tự do nghiên cứu, tự do giảng dạy và tự do học hỏi và tìm hiểu mà không bị kiểm duyệt, đàn áp, hay chi phối bởi các thế lực chính trị và kinh tế.

VIỆT NAM YÊU DẤU