Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia. - Điều 19, Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thơ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thơ. Hiển thị tất cả bài đăng

28/10/14

VÌ SAO NGHIỆN TOÁN VÀ THƠ?

Mặc dù vậy, tôi vẫn khẳng định rằng người ta đến với Toán và Thơ, và ẩn náu trong đó, để TRÁNH NHỮNG CÁI KHÓ khác. Những cái khó khác này rất nhiều, và trong nhiều trường hợp việc khắc phục còn khó hơn rất nhiều lần so với giải quyết một vấn đề trong Toán Học. Nó đòi hỏi người ta phải có năng lực tổng hợp, hiểu biết không chỉ một lĩnh vực.
Trung Hà
_________
Trung Hà
Nguồn: Lề trái
Đọc bài “Người Việt bị ngộ độc Toán và Thơ” của Phan Châu Thành, tôi thấy thú vị, khá tâm đắc với những suy nghĩ của tác giả này. Mặt khác, tôi cũng muốn góp thêm vài ý để giải thích tại sao lại có hiện tượng nghiện nặng Toán và Thơ như vậy trong xã hội ta. (Tôi rất thích từ “ngộ độc” của PCT, nhưng bản thân chỉ dám dùng từ “nghiện”.)
Trước khi bàn về lý do, xin nêu ra ngay vài nhận định hiển nhiên về liên quan đến hai lĩnh vực này.
Toán là một môn học khó, đòi hỏi tư duy logic chặt chẽ. Ở bậc học phổ thông thì đó là môn khó nhất. Làm Toán chuyên nghiệp đòi hỏi suy luận liên tục, một công việc gây mệt óc.
Để học Văn tốt, đòi hỏi có ít nhiều năng khiếu. Để làm được Thơ thì phải là bậc thầy về ngôn từ (nhưng đây cũng mới là điều kiện cần). Ngay cả viết cho có vần cũng đòi hỏi chút năng khiếu và công tìm tòi.

20/5/11

HỎI ĐÁP VỀ THƠ

Nguyễn Trọng Tạo
Giữa biển thơ mênh mông, con sóng thơ nào sẽ lọt vào mắt xanh của bạn? Giữa dòng thơ rộng lớn, hoa trái nào sẽ gieo mầm vào hồn thơ của bạn? Chuyên mục HỎI VÀ ĐÁP VỀ THƠ mở ra là để cùng các bạn lựa chọn những bài thơ hay, những câu thơ hay, những lời bình thú vị nhằm góp vào cuốn sổ tay thơ của chúng ta ngày càng thêm phong phú. Bạn đọc cũng có thể gửi tới chuyên mục này những câu hỏi, cần giải đáp về thơ, và cũng đừng ngần ngại mách cho chúng tôi những câu thơ ngớ ngẩn đã được in ra trên sách báo, trên mạng internet, v.v…

NGHE TIẾNG CƠM SÔI CŨNG NHỚ NHÀ

Mở đầu chuyên mục, là bài trả lời 2 câu hỏi của bạn Bùi Đức Luận, học sinh lớp 12 trường phổ thông trung học Nguyễn Trung Trực thị xã Rạch Giá – Kiên Giang.
1. Thế nào là thơ hay?
2. Tôi rất thích câu thơ “Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà”. Đấy có phải là một câu thơ hay?
1. Câu hỏi: “Thế nào là thơ hay” có nhiều câu trả lời khác nhau. Người xưa cho rằng, thủy tổ của thơ là Lời – Hành động – Tấm lòng, ba thứ ấy kết hợp lại bằng cách điệuhứng thú thì sẽ thành thơ hay. Còn theo từ điển tiếng Việt định nghĩa về từ “hay”, thì ta có thể nói: “Thơ hay là thơ gây được hứng thú bất ngờ hoặc cảm xúc tốt đẹp, dễ chịu cho người thưởng thức”.

22/4/11

Bài thơ tớ thích: TỔ QUỐC RÙNG MÌNH TRONG CƠN NHẬU NHẸT

Bùi Minh Quốc


Click vào hình để xem kích thước lớn hơn
Làng cổ Đường Lâm. Ảnh: Internet

Còn ai kêu cho những cây thông không biết nói

Khi nhà thơ bị bóp cổ nghẹn lời

Rừng nguyên sinh vung lưỡi rìu quỉ đói

Rắc rắc cây xô cốc chạm quỉ vang cười

 

19/4/11

Bài thơ tớ thích: TIẾNG VIỆT

 http://www2.vietbao.vn/images/viet2/blog/20750438_images1431847_images1326686_hue12.jpg
Lưu Quang Vũ
Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm
Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về
Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm
Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre.

Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng
Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya
Tiếng lụa xé đau lòng thoi sợi trắng
Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê.

10/4/11

Bài ca nối mạng

http://www.tin247.com/sohoa/080606103104-441-883.jpg
Tặng các công dân Net
Hoàng Hưng
Màn hình computer rực sáng.
Những tiếng phẫn nộ, những tiếng yêu thương,
những tiếng khinh bỉ, những tiếng sẻ chia,
những tiếng đòi SỰ THẬT,
những ánh nến hồng ngàn vạn trái tim,
những bó hoa tươi ngàn vạn tấm lòng,
trong còi rít, còng khua,
trong dùi vung, đạn xé,

3/4/11

Lê Đạt-Bóng chữ ngả dài trên đường chữ

TP - Đúng như tên tọa đàm tối 31-3 tại Trung tâm văn hóa Pháp, bạn bè, đồng nghiệp, khán giả dành gần ba tiếng đồng hồ nói nhiều đến thơ và con người Lê Đạt.
Quang cảnh buổi tọa đàm “Lê Đạt – Bóng chữ ngả dài trên đường chữ” Ảnh: N Thiện
Quang cảnh buổi tọa đàm “Lê Đạt – Bóng chữ ngả dài trên đường chữ” Ảnh: N Thiện .
“Chúng ta lại có dịp sửng sốt, kinh ngạc, thán phục những gì Lê Đạt để lại cho đời… Lê Đạt đánh cược cả đời vào mấy tên gọi Bóng chữ, Đường chữ, Phạm Xuân Nguyên mở lời cho ăm ắp lời bình về Lê Đạt. Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy luôn đặt nhà thơ Trần Dần cạnh người bạn Lê Đạt, để thấy chuyển biến về ngôn ngữ, đặc biệt là những tìm tòi chữ, tầng chữ.
“Cuộc cách mạng ngôn ngữ thơ có được sau thời kỳ Nhân văn giai phẩm, do các ông cách li với xã hội, rơi vào sự cô đơn, dồn tới một là cách mạng hai là chết”, ông Đỗ Lai Thúy nhắc đến căn nguyên tìm tòi ở Lê Đạt.
Ông Đỗ Lai Thúy cho rằng, chính kiểu sáng tạo độc đáo này của Lê Đạt khiến những ai đọc ông bằng hệ hình thơ cũ sẽ thấy thơ Lê Đạt không mới, nặng về kỹ thuật. Từ đó hiểu nhầm danh hiệu tự phong phu chữ của nhà thơ, mà không hiểu rằng kỹ thuật đó không phải là thủ công hoặc cơ giới mà kỹ thuật của công nghệ cao, kỹ thuật gien, của thời đại tin học. Kĩ thuật ấy không ở bàn tay, khối óc mà ở sự minh thông.

2/4/11

Nhớ Xuân Diệu và Huy Cận

HOA NỞ Ở NƠI NÀY
Nhớ Xuân Diệu và Huy Cận
Bùi Công Tự
http://www.xaluan.com/images/news/Image/2007/10/03/xuandieu-huycan.jpg 

Tôi chưa một lần
Vào nghĩa trang Mai Dịch
Bởi đơn giản
Không ai người thân thích
Nơi đây.
Nhưng tôi biết
Trong khuôn viên danh dự này
Đang yên nghỉ
Hai nhà thơ Cộng Sản
Hai trái tim
“Chẳng bao giờ chán nản”
Đã “cùng xương thịt với nhân dân” (1)

7/3/11

MỘT NHÂN CÁCH VUÔNG CHÀNH CHẠNH

Hoàng Tiến
 
NHÂN GIỖ ĐẦU NHÀ THƠ HỮU LOAN

 Có người viết hàng trăm bài thơ, hàng nghìn bài thơ. Nhưng chẳng ai nhớ nổi một bài, nhớ nổi vài câu. Còn ngược lại, có người chỉ làm vài bài thơ, thậm chí một bài thơ, mà được lưu truyền đời này đời khác. Đọc lên, ai cũng tấm tắc khen hay.

1/2/11

Đông và Tây

Hà Văn Thịnh
Tặng sinh viên Khoa Lịch Sử – Đại học Khoa học Huế

-
Khi người La Mã còn mải rong chơi
Đuổi bắt cái lá nho của nữ thần Vénus
Người Ai Cập đã có 2.000 năm dựng lên nhà nước
Tàn bạo không cùng bóc lột đám dân đen!…
Người phương Tây lập ra nghị viện
Vua do dân bầu dân chủ công khai
Phương Đông cúi đầu tụng niệm

27/12/10

Một ngày phải khác mọi ngày


Bùi Chí Vinh
(Sau một ngày thống kê một cách khách quan những bi hài kịch thời sự nóng hổi)
.
Chào một ngày giống hệt mọi ngày
Sóng truyền hình phủ toàn phim Trung Quốc
Từ HTV, VTV, BTV, Đồng Nai, Long An, Bà Rịa Vũng Tàu, Cà Mau… cho đến “cáp”
Hết “Triều Đại Mãn Thanh” đến “Đại Tống Truyền Kỳ”

Chào một ngày giống hệt mọi ngày
Đọc báo thấy cha ông mất hút
Thấy thiên hạ quỳ mọp dưới tượng đài Binh Pháp Mặc Công, Ngọa Hổ Tàng Long, Họa Bì, Xích Bích…
Con nít thuộc lòng Hoắc Nguyên Giáp, Hoàng Phi Hồng, Diệp Vấn, Diệp tùm lum hơn thuộc sử Tiên Rồng

11/12/10

Phan Đắc Lữ, dồn nén nỗi nhớ quê

Thượng nguồn sông Thu Bồn
Nhà thơ Phan Đắc Lữ sinh ngày 10-7-1937 tại làng Bảo An, xã Điện Quang, huyện Điện Bàn. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, anh được cử ra miền Bắc học tập rồi công tác 50 năm sau mới trở về cố hương. Hiện nay nhà thơ sống và viết ở Thành phố Hồ Chí Minh. "Ngày trở về" là bài thơ đằm thắm nhất của ông trong phần thơ 32 bài in chung trong tập thơ "Hòn Kẽm Đá Dừng" của 4 nhà thơ xứ Quảng cùng thế hệ: Thu Bồn (1935), Phạm Doãn Hứa (1936), Tường Linh (1931), Phan Đắc Lữ (1937), Nhà Xuất bản Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 2001.

Có thể nói bài thơ kết tinh những nhớ thương, mong mỏi dồn nén trong nửa thế kỷ xa quê. Những địa danh của quê hương hiện ra trong thơ như một nỗi ám ảnh không dứt. Sơn Trà, Tiên Sa, Ngũ Hành Sơn, sông Thu Bồn, Cửa Đợi...
Một chút nắng ấu thơ còn sót lại
Chiều bâng khuâng thắp sáng đỉnh Sơn Trà
Núi không hẹn nên người đi, đi mãi
Ngày trở về ngơ ngác cảng Tiên Sa

27/11/10

Nhìn từ xa... Tổ Quốc!


Nguyễn Duy

Đối diện ngọn đèn
trang giấy trắng như xeo bằng ánh sáng
đêm bắc bán cầu vần vũ trắng
nơm nớp ai rình sau lưng ta
nhủ mình bình tâm nhìn về quê nhà
xa vắng
núi và sông
và vết rạn địa tầng

nhắm mắt lại mà nhìn
thăm thẳm
yêu và đau
quằn quại bi hùng
dù ở đâu vẫn Tổ Quốc trong lòng
cột biên giới đóng từ thương đến nhớ
ngọn đèn sáng trắng nóng mắt quá
ai cứ sau mình lẩn quất như ma


Ai?
im lặng!
Ai?
cái bóng!
Ai?...


xin chào người anh hùng bất lực dài ngoẵng
bóng máu bầm đen sóng soải nền nhà
thôi thì ta quay lại
chuyện trò cùng cái bóng máu mê ta

có một thời ta mê hát đồng ca
chân thành và say đắm
Ta là ta mà ta vẫn là ta (1)
 

vâng - đã có một thời hùng vĩ lắm
hùng vĩ đau thương, hùng vĩ máu xương
mắt người chết trừng trừng không chịu nhắm
vâng - một thời không thể nào phủ nhận
tất cả trôi xuôi - cấm lội ngược dòng
thần tượng giả xèo xèo phi hành mỡ
ợ lên nhồn nhột cả tim gan

Ta đã xuyên suốt cuộc chiến tranh
nỗi day dứt khôn nguôi còn sạn gót chân
nhói dài mỗi bước

11/10/10

Thơ rất thiêng

Kính nhờ nguyentrongtao.org công bố giúp bài “Thơ rất thiêng” của tôi dưới đây (đã gửi báo Văn nghệ của Hội nhưng báo không đăng), trân trọng cảm ơn.
BÙI MINH QUỐC

Không biết đã có nhà nghiên cứu nào mò mẫm vào cái phạm trù đặc biệt này : tính thiêng của thơ ?
Phần tôi, bằng sự trải nghiệm của hơn năm mươi năm cầm bút, với tất cả sự dè dặt, chỉ xin giãi bày đôi chút cảm và nghĩ.
Cảm và nghĩ này bắt đầu vụt loé trong tôi vào năm 1992, khi đọc “Chân dung nhà văn” của Xuân Sách.Trước kia chỉ nghe truyền miệng, các “Chân dung” cứ trượt đi trong cái bầu khí bỗ bã cười đùa tếu táo, có bài nghe xong tôi còn thầm trách ông Sách ác khẩu.Giờ thì đọc đến đâu giật mình đến đấy.Và ngộ ra : thơ thiêng lắm ! Năm ấy tôi ghi lại, bằng thơ, cảm nghĩ của mình :
Thơ thiêng lắm người ơi
Phản thơ thì phải chết
Chẳng ai giết mình mà mình tự giết
Cuộc tự giết ấy đã được nhà thơ Chế Lan Viên tự thổ lộ vào lúc gần cuối đời (1988) trong bài “Trừ đi” :
Cái cần đưa vào thơ, tôi đã giết rồi
Quái lạ, sao vậy nhỉ ?

26/8/10

Thơ Phùng Quán

Có những phút ngã lòng
Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy
1956 - Phùng Quán

Hôm trước ra hiệu sách cũ, tình cờ mua được quyển "Thơ Phùng Quán" NXB Hội Nhà văn phát hành năm 1995. Ba hôm nay ốm một trận "tơi bời khói lửa", nằm liệt giường liệt chiếu, không đi đâu được bèn lấy ra đọc. Sáng nay trời đẹp. "long thể" cũng có phần ổn ổn, tuyển mấy bài trong tập thơ, đưa lên blog ngõ hầu cùng bà con thưởng thức.

Phùng Quán sinh năm 1932, mất năm 1995, quê tại xã Thuỷ Dương, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông bắt đầu viết trong khoảng thời gian của cuộc kháng chiến chống Pháp và được chú ý đến với tác phẩm Vượt Côn Đảo (giải thưởng Hội nhà văn Việt nam năm 1955) nhưng được chú ý đến nhiều hơn sau Đổi mới.

Ông là một trong những nhân vật nổi tiếng của phong trào Nhân văn - Giai phẩm. Vì lẽ đó, ông bị kỉ luật, phải đi lao động cải tạo ở nhiều nơi. Cho đến khi được đánh giá lại vào thời kì Đổi mới, hầu như không có một tác phẩm nào của ông được xuất bản. Ông phải tìm cách làm giấy khai sinh cho những đứa con tinh thần của mình dưới bút danh khác.

Ngoài Vượt Côn Đảo, ông còn được bạn đọc, đặc biệt là bạn đọc nhỏ tuổi biết đến với Tuổi thơ dữ dội (xuất bản năm 1988, giải thưởng Văn học Thiếu nhi của Hội nhà văn Việt Nam năm 1990).

Điều thú vị ít ai biết, Phùng Quán là cháu, gọi Tố Hữu bằng cậu (nhưng trong tác phẩm "Ba phút sự thật", thì ông nói rằng gọi "cậu" là do thói quen, thực ra Tố Hữu là bác của Phùng Quán theo cách nói của người miền Bắc - Wikipedia). Tuy vậy, giọng điệu và phong cách thơ hai người khác nhau như nước với lửa. Thơ Tố Hữu đã quá quen thuộc với bạn đọc, vì bạn đã được (!) học đi học lại trong SGK các cấp học. Dưới đây là những bài thơ nổi tiếng của ông.

Hồ Như Hiển
(Có tham khảo các thông tin, tư liệu trên Wikipedia) 

25/8/10

ĐÃ ĐI VỚI NHÂN DÂN THÌ THƠ KHÔNG THỂ KHÁC

(Tham luận của Ngô Minh tại Đại hội Hội Nhà văn VIII)
clip_image002
Nhà thơ Ngô Minh
Đỗ Phủ là nhà thơ đời Đường, cùng với Lý Bạch được coi hai nhà thơ vĩ đại nhất Trung Quốc. Bản thân ông 15 năm cuối đời là người bần hàn, khốn khó, đói rách. Một lần Đỗ Phủ chạy giặc trên chiếc đò nhỏ trên sông Tương, nhịn đói đã 10 ngày. Sau đó chức sắc trong vùng biết tin, đem rượu thịt mời. Ông ăn uống no say rồi bị “thương thực”, lăn ra chết. Gọi là chết no, nhưng thực chất là chết đói. Vì thế thơ ông thấm đẫm nỗi đau của người dân cùng khổ. Nói về Đỗ Phủ, trong bài thơ “Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe” của Phùng Quán có khúc thơ rất thống thiết: Đã đi với nhân dân / Thì thơ không thể khác/ Dân máu lệ khốn cùng / Thơ chết áo đắp mặt… Tôi muốn nhân chuyện thơ Phùng Quán về Đỗ Phủ để nói vài ý kiến ngắn về lối đi của nhà văn trên con đường văn chương thăm thẳm để có tác phẩm đích thực mà người đọc luôn mong đợi. Gần mực thì đen/Gần đèn thì sáng. Nhà văn đi với ai thì sẽ viết ra thứ văn chương đó.

TỔ QUỐC VÀ THƠ

(gửi đăng nhân dịp chuẩn bị Đại hội Hội Nhà văn lần thứ VIII)
Hà Sĩ Phu
image Tổ quốc và Thơ! Đề tài quá lớn này xin dành cho các nhà lý luận văn học chuyên nghiệp. Ở đây tôi chỉ nhặt ra một mảnh, nhưng là một mảnh gương lồi, tuy nhỏ nhưng cũng đủ thu gọn một khuôn hình về xã hội và Tổ quốc Việt Nam trong thơ.
Mảnh gương rơi vào tay tôi là một bài thơ chuyền tay có nhan đề như một câu hỏi “Thế này là thế nào…”, ký tên Trần Ái Dân. Ái Dân chắc hẳn là một bút danh, bút danh chưa xuất hiện bao giờ và không được giới thiệu thì tạm coi là ẩn danh vậy.
Bài thơ ngắn và dân dã.
Nhưng muốn hưởng hết thi vị của bài thơ dân dã này, lại phải khai vị bằng một bài thơ “bác học”, cũng mở đầu từ một câu hỏi, cũng phác họa một chân dung đất nước. Ấy là bài thơ nổi tiếng “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?”của Chế Lan Viên mà rất nhiều người đã thuộc lòng vì nó hoành tráng, nó đã từng bơm cho mọi người bay lên cùng “Tổ quốc”.

VIỆT NAM YÊU DẤU